Saturday, 08 August 2020

G Giáo dục

Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 5/2020

User Rating: 0 / 5

Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 

I. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI BÁC

Bác Hồ với Đảng

Ngày 9 tháng 12 năm 1961, Bác Hồ có cuộc gặp với cán bộ, đảng viên lão thành cách mạng hai tỉnh “đỏ”: Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây là những đảng viên lâu năm, hoạt động cách mạng từ những năm 1929 – 1930, khi Đảng còn trong “bóng tối”. Cách mạng thành công, do nhiều lý do, một số trong các bậc lão thành không có điều kiện nhận “chức này, quan nọ không được “ưu tiên”, con cháu ít được ưu đãi…

Bác nhẹ nhàng hỏi chuyện:

- Các đồng chí nói: Có những thành phần không tốt, khi trước nó phản Cộng sản, nay nó được đề bạt; mình trung thành với cách mạng thì không được chú ý. Không đúng! Cố nhiên, một đôi lúc các ban tổ chức địa phương hay Trung ương không cẩn thận… đó là nhầm. Nhưng bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cách mạng có nhu cầu là phải dùng. Ví dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng. Con của đồng chí mình thì kém, dốt. Con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi?           Con của người ngoài Đảng hay trong Đảng?...

Bác dừng lại nhìn cả hội trường, hỏi mà Bác không vui, dù chắc đã biết câu trả lời mà Bác vẫn hỏi. Các “lão thành đồng chí” nhìn lên Bác, trả lời:

- Dạ, con của người ngoài Đảng ạ.

Bác gật đầu nói:

- Đúng, vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng lo việc cho cả nước, không lo riêng cho một đồng chí nào…

Nguồn: Sưu tầm

 

“Đảng ta” Bài báo đầy hào khí của Bác Hồ

 

Tháng 1-1949, nhân kỷ niệm lần thứ 19 Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới bút danh Trần Thắng Lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo có nhan đề “Đảng ta” đăng trên Tạp chí Sinh hoạt nội bộ, tức Tạp chí Cộng sản ngày nay(1).

Hai từ “Đảng ta” từ ấy đã đi vào lòng cán bộ, đảng viên và mỗi người dân nước ta như một biểu hiện sâu đậm của tình cảm trìu mến, thân thương, cần cho cuộc sống như không khí và nước uống. Hai từ “Đảng ta” nói lên nhiều điều mà đến tận ngày nay giá trị vẫn còn nguyên vẹn. Trước hết, đó là vinh dự và trách nhiệm của người chiến sĩ cách mạng được đứng trong hàng ngũ Đảng tiên phong chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đó là mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; Đảng coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, ngược lại, nhân dân coi Đảng là chính đảng của chính mình. Đó còn là niềm tin của Đảng và toàn dân tộc về sự tất thắng của sự nghiệp độc lập, tự do và CNXH trên đất nước ta.

 

Mở đầu bài báo, Bác Hồ điểm qua phong trào cộng sản trên thế giới. Người viết:

“Năm 1847, Mác và Ăngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 năm cách mạng Nga thành công. Sau 98 năm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hăng hái lãnh đạo hàng trăm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản”.

Về Đảng ta, Người khẳng định: “Đảng ta tuy trẻ trung nhưng đã lập được những công trạng rất to tát”. Dẫu chỉ muốn “nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng”, Bác Hồ cũng đã nêu lên những dấu mốc lịch sử quan trọng nhất.

“Năm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours), Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.

Năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, tổ chức Việt nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.

Năm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức Đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.

Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng”.

Và Bác đã viết về Hội nghị đó như sau:

“Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930(2).

Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng rất vui mừng và thêm hăng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo”.

Bài báo đã điểm qua các phong trào cách mạng từ Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nam Kỳ khởi nghĩa đến việc thành lập chiến khu Việt Bắc, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công và việc thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Bác nêu lên những tấm gương đảng viên và những người thanh niên cộng sản đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hi sinh. “Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”. Bác viết: “Năm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 năm ấy, năm nào cũng là một năm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay”.

Bác không quên nhắc nhở:

“Tuy vậy chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.

Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí chúng ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.

- Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?

- Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?

- Đã luôn cố gắng học tập, luôn cầu tiến bộ chưa?

- Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?

- Đã thật cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư chưa?

- Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa? Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được”.

Bài báo của Bác Hồ kết luận:

“Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc của Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm tròn nhiệm vụ của đảng viên.

Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng cộng sản. Vì vậy bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công”.

Năm nay, 2010, sáu mươi mốt năm đã qua kể từ ngày Bác Hồ viết bài báo “Đảng ta”. Trong 61 năm ấy, Đảng ta đã viết tiếp biết bao trang oanh liệt: lãnh đạo hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại thành công và ngày nay tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Năm nay là năm kỷ niệm lần thứ 80 ngày thành lập Đảng ta. Đó cũng là năm toàn Đảng ta chuẩn bị tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng sẽ họp vào đầu năm 2011.

Những nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới đã khác nhiều so với những nhiệm vụ của cách mạng trong các giai đoạn trước, nhất là của giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mới bước vào năm thứ ba, khi Bác viết bài báo “Đảng ta”.

Nếu như trước kia, mọi nỗ lực của toàn Đảng và toàn dân tộc tập trung vào việc đánh thắng kẻ thù xâm lược, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc thì ngày nay, mọi cố gắng phải tập trung vào việc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ đề trung tâm cuộc chiến đấu của chúng ta trong thập niên đầu thế kỷ XXI, như Đại hội X của Đảng chỉ rõ, là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Mục tiêu cụ thể là phấn đấu đến năm 2010, đưa nước ta đứng vào hàng ngũ các nước đang phát triển có trình độ thu nhập trung bình và đến năm 2020, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Và: “Thế kỷ XXI phải là thế kỷ đưa nước ta sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới”.

Những câu hỏi mà Bác Hồ nêu lên năm xưa cho mỗi đảng viên tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, nếu đặt trong tình hình mới, gắn với những nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới thì sẽ trở thành những câu hỏi nóng bỏng tính thời sự về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là những câu hỏi đặt ra cho việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc và đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bài học, cũng là chân lý Bác Hồ nêu lên trong bài báo “Đảng ta” là: “Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chính chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm”. “Chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại”. “Không có vinh dự nào to bằng cái vinh dự được làm đảng viên của Đảng cộng sản. Vì vậy, bất cứ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng với cái vinh hạnh ấy”./.

-------------

(1) Xem bài “Đảng ta”, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, 1995, t.5, tr.546.

(2) Đại hội III của Đảng (1960) xác định Đảng thành lập ngày 3-2-1930.

Nguồn: tuyengiao.vn

 

II. TRUYỀN THỐNG

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 130 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 – 19/5/2020)

I. Khái quát thân thế và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 1. Thân thế và thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan.

Từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào sống ở Huế. Đầu năm 1901, sau khi thân mẫu qua đời, Người theo cha trở về Nghệ An, rồi lấy tên là Nguyễn Tất Thành, tích cực học chữ Hán và còn theo cha đi một số nơi, học thêm nhiều điều. Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, thời gian đầu học trường Pháp - Việt, sau học trường Quốc học Huế. Tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Bình Định, tháng 8/1910 vào Phan Thiết, Bình Thuận làm giáo viên trường Dục Thanh. Tháng 02/1911, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn.

2. Quá trình hoạt động cách mạng

2.1. Giai đoạn 1911 - 1920

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một làng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, Người đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước. Ngày 5/6/1911 với tên gọi mới là Văn Ba, Người đã lên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp).

Từ năm 1912 -1917, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động, cuối năm 1917 Người mới trở lại nước Pháp.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, tháng 6/1919 thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi bản yêu sách gồm 08 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới Hội nghị các nước đế quốc họp ở Véc-xây (Pháp), đòi chính phủ các nước họp Hội nghị phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng Xã hội Pháp. Tại đây Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

2.2. Giai đoạn 1921 - 1930

Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều hoạt động: thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua, làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ...

Ngày 13/6/1923, Người rời nước Pháp đi Đức và đến thành phố Xanhpêtécbua (Liên Xô) ngày 30/6/1923.

Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham dự Đại hội II Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp; học tập tại trường Đại học phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là cán bộ Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản.

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ, ra Báo Thanh niên (1925), tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được tập hợp và in thành tác phẩm Đường Cách mệnh, được xuất bản vào năm 1927.

Hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc đi Liên Xô, sau đó đi Đức (tháng 11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đế quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia. Tháng 7/1928, Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929.

 Từ ngày 06/1 đến ngày 07/2/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2.3. Giai đoạn 1930 - 1945

Từ năm 1930 đến năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước. Tháng 6/1931, Người bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin.

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô đến Diên An (Trung Quốc) làm việc tại Bộ chỉ huy Bát lộ quân, sau đó bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước  (tại cột mốc 108 thuộc xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng).

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khuổi Nặm (Pắc Bó, Cao Bằng). Hội nghị đã xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam Độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc bắt liên lạc với Đồng minh, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Trong thời gian bị giam giữ, Người viết cuốn Nhật ký trong tù. Tháng 9/1943, Người được thả tự do.

Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

2.4. Giai đoạn 1945 - 1954

Những năm 1945 - 1946, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với thù trong, giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 02/03/1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 03/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ tháng 11/1946 - đến tháng 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

2.5. Giai đoạn 1954 - 1969

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền, ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào cuộc chiến đấu chống xâm lược mới. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 10 /1956, tại Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ X (khóa II),   Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử giữ chức Chủ tịch Đảng.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là tổn thất vô cùng lớn lao. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết. Sự ra đi của Người để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam và tình đoàn kết thân ái với nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ còn mãi với non sông đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta.

II. Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ thiên tài của đảng và nhân dân, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào Cộng sản và Công nhân Quốc tế

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước. Nhiều cuộc khởi nghĩa, đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại, phong trào cứu nước của nhân dân ta đứng trước khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do cho dân, cho nước, Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển, vừa lao động, học tập, vừa quan sát, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt. Người đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin; bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất mới của thời đại mở ra từ Cách mạng tháng Mười Nga, Người đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập vào năm 1930, cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước đúng đắn của Việt Nam đã cơ bản được xác định. Điều này không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã gắn kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân, đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Ngay sau khi giành độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ của ta đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng đã sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ Đảng và giữ vững chính quyền cách mạng. Trên cơ sở đường lối kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện”, “trường kỳ”, “dựa vào sức mình là chính” phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đi theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vận dụng phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch của đất nước sau gần 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là minh chứng sinh động khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng; khẳng định sự đúng đắn về đường lối cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; và chính trong quá trình vận động của cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng nền Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tổ chức và huấn luyện các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Người đặt nền tảng quan hệ với các dân tộc trên thế giới. Người đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam giành được thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Nước ta từ một xứ thuộc địa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từng bước hoàn thiện; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

 

Nguồn: Ban Tuyên giáo Trung ương

CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 – 07/5/2020)

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào - Việt, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng.

Đối với đế quốc Pháp - Mỹ, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam châu Á.

Thấy rõ vị trí quan trọng đó của Điện Biên Phủ, ngày 20-11-1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

 

Sau 55 ngày đêm chiến đấu, ngày 7/5/1954, quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch.

(Ảnh: hochiminh.vn)

 

Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và phi đội không quân thường trực có 14 chiếc. Tổng số binh lực là 16.200 tên. Chúng bố trí thành tập đoàn cứ điểm gồm 40 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, mỗi cụm cứ điểm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng. Tám cụm cứ điểm họp thành ba phân khu, 80% lực lượng không quân ở Đông Dương và nhiều loại vũ khí hiện đại khác của Pháp và Mỹ đã được đưa vào tác chiến ở Điện Biên Phủ.

Với số quân đông, hoả lực mạnh, công sự vững chắc, các tướng tá Pháp và Mỹ xác nhận đây là "một tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "một pháo đài bất khả xâm phạm". Xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hòng thực hiện ý đồ thu hút chủ lực ta lên đó để tiêu diệt, rồi chuyển sang tiến công ta.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, công việc chuẩn bị cho chiến dịch được ráo riết tiến hành từ cuối năm 1953.

Chủ tịch Hồ Chí Minh Chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được". Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng uỷ và Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Đảng uỷ và Chỉ huy trưởng mặt trận.

Chính phủ quyết định tổ chức Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch và Hội đồng cung cấp Mặt trận các cấp.

Với khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”, nhân dân ta đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch.

Đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.

Ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau 5 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt nhanh gọn hai cứ điểm kiên cố bậc nhất của địch (Him Lam và Độc Lập), sau đó, làm tan rã thêm một tiểu đoàn địch và tiêu diệt cứ điểm Bản Kéo. Ta diệt và bắt sống 2.000 tên địch, bắn rơi 12 máy bay, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp sân bay Mường Thanh, giáng một đòn choáng váng vào tinh thần binh lính địch. Trong đợt tiến công mở đầu này, Phan Đình Giót đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, lấy thân mình lấp lỗ châu mai tạo điều kiện cho toàn đơn vị tiến lên tiêu diệt địch.

Ngày 16-3-1954, địch cho 3 tiểu đoàn nhảy dù xuống tăng viện cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 30-3-1954, ta mở đợt tiến công thứ hai đánh đồng loạt các ngọn đồi phía đông của phân khu trung tâm.

Đánh vào khu đông, ta tiêu diệt 2.500 tên địch, chiếm lĩnh phần lớn các điểm cao quan trọng ở phía đông, củng cố từ trên đánh xuống, tạo thêm điều kiện chia cắt, bao vây, khống chế địch, chuyển sang tổng công kích tiêu diệt địch.

Để tăng cường cho Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã tập trung hầu hết máy bay chiến đấu, máy bay vận tải ở Đông Dương cho mặt trận. Đế quốc Mỹ tăng viện gấp cho Pháp 100 máy bay oanh tạc chiến đấu, 50 máy bay vận tải và cho Pháp mượn 29 máy bay C119 có cả người lái; lập cầu hàng không chở dù từ Nhật và Mỹ sang mật trận Điện Biên Phủ. Đế quốc Mỹ còn đưa 2 tàu sân bay vào vịnh Bắc Bộ diễn tập "đổ bộ ào ạt vào Đông Dương".

Về phía ta, qua hai đợt chiến đấu, lực lượng không ngừng được củng cố. Bộ đội ta đã có những cố gắng phi thường, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công rực rỡ. Tuy vậy, do cuộc chiến đấu liên tục, kéo dài và ác liệt, khó khăn về cung cấp tiếp tế cũng tăng thêm nên đã phát sinh tư tưởng tiêu cực, ngại thương vong, mệt mỏi.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, một đợt sinh hoạt chính trị được tiến hành sâu rộng từ các cấp uỷ đến chi bộ, từ cán bộ đến chiến sĩ trong tất cả các đơn vị trên toàn mặt trận. Tư tưởng hữu khuynh tiêu cực bị phê phán sâu sắc tinh thần triệt để cách mạng, tinh thần quyết chiến, quyết thắng được phát huy mạnh mẽ.

Ngày 1-5-1954, ta mở đợt tiến công thứ ba. Quân ta lần lượt đánh chiếm những cứ điểm còn lại ở phía đông và phía tây, bẻ gãy những cuộc phản kích của địch.

Ngày 4-5-1954, địch thả tiểu đoàn dù dự bị cuối cùng xuống Điện Biên Phủ.

Ngày 7-5-1954, bộ đội ta phất cao cờ chiến thắng, tiến thẳng vào sở chỉ huy địch, tướng Đờ Cáttơri (De Castries) và toàn bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt sống.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ta tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh cơ động chiến lược, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 353 sĩ quan từ thiếu uý đến thiếu tá, 16 trung tá và đại tá, 1 thiếu tướng. Tổng cộng, số lượng địch bị tiêu diệt và bắt sống tại Điện Biên Phủ bằng 4% quân số địch ở Đông Dương, 20% lính Âu - Phi. Ta hy sinh 4.200 đồng chí, mất tích 792 đồng chí, bị thương 9.118 đồng chí.

Ta thu được 28 khẩu pháo, 5.915 khẩu súng lớn nhỏ, 3 xe tăng, 64 ô tô, 43 tấn dụng cụ thông tin, 20 tấn thuốc quân y, 40 tấn đồ hộp, 40.000 lít xăng dầu, bắn rơi 62 máy bay các loại.

Tại các chiến trường phối hợp trong toàn quốc, ta tiêu diệt 126.070 tên địch.

Đây là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần quyết định làm phá sản kế hoạch Nava của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, là chiến thắng có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, một chiến công vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến trường kỳ, anh dũng của nhân dân ta. Điện Biên Phủ ghi một mốc son chói lọi vào lịch sử dân tộc và thời đại, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh Việt Nam.

Trong con mắt của các học giả nước ngoài, "Điện Biên Phủ là trận Vanmy của các dân tộc da màu”, "trên thế giới, trận Oatéclô cũng ít có tiếng vang hơn. Điện Biên Phủ thất thủ đã gây ra những nỗi kinh hoàng ghê gớm, báo hiệu sự tan rã của các thuộc địa và sự cáo chung của nền cộng hoà. Tiếng sấm Điện Biên Phủ vẫn đang âm vang”.

 

Nguồn: Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Link tham khảo: http://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-cuoc-thi/chien-dich-lich-su-dien-bien-phu-538543.html

 

TIỂU SỬ CÁC MÁC (05/5/1818 – 05/5/2020)

Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein thuộc Trier là một thành phố cổ của Đức, thời Trung cổ. Ông đã cùng với Phriđơrich Ăngghen (Friedrich Engels) mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại như những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học có tác động to lớn và sâu rộng đối với nhân loại tiến bộ.

 

 Các Mác (1818 - 1883)

Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein. Trier là một thành phố cổ của Đức, thời Trung cổ, Trier là thủ đô của một công quốc tôn giáo lớn, nơi cư trú của đại giáo chủ xứ Trier. Tuy vậy, Trier không nằm ngoài phong trào xã hội sôi động ở nước Đức và cuộc sống yên tĩnh của thành phố này cũng bộc lộ những mâu thuẫn xã hội sâu sắc giữa dân nghèo thành thị với thiểu số tầng lớp thị dân giàu có.

(Henrich Mác) Heinrich Marx là một người cha có nhân cách khác thường, học rộng, hiểu biết khá rõ về những tác phẩm của các nhà tư tưởng Pháp thế kỷ XVIII, đặc biệt về Giăng Giăccơ Russô (Jean Jacques Rousseau) và Vônte (Voltaire). Henrich Mác rất yêu quý con trai, đáp lại Các Mác cũng rất gắn bó với cha. Tình cảm cha con không hề bị suy giảm ngay cả trong thời kỳ xảy ra những bất đồng quan điểm trong nhận thức về sứ mệnh cuộc đời hai bố con. Suốt đời C. Mác hết sức kính trọng bố, luôn luôn đem theo mình tấm ảnh của bố  chụp theo lối Đaghe (Daguerre).

Mẹ của C. Mác, bà Henrieta Pơretbơt (Henrietta Presburg), vốn gốc người Hà Lan, mẹ của chín người con nên bà chỉ ở nhà làm công việc nội trợ. Thế giới tinh thần của bà bị bó hẹp và bà không trở thành người bạn thực sự của con trai như bố đối với C. Mác. Trong bốn anh em trai và năm chị em gái thì C. Mác là người con yêu trong gia đình, là linh hồn của đám trẻ cùng lứa tuổi vì đầu óc thông minh, biết bày ra các trò chơi hấp dẫn, biết sáng tác ra đủ mọi thứ chuyện tưởng tượng.

Thời niên thiếu và thanh niên                    

(tham khảo đường link bên dưới)

Những năm tháng sống ở nước ngoài

Cuối tháng Mười năm 1843, vợ chồng C. Mác đi Paris, thủ đô nước Pháp. Sau này, Mác có dịp đến Paris một vài lần nữa, nhưng chuyến đi Paris đầu tiên mà Mác lưu lại một năm rưỡi là quãng thời gian đầy ý nghĩa đối với sứ mệnh chính trị của C. Mác.

Lần đầu tiên, Các Mác gặp Phriđơrich Ăngghen (Friedrich Engels) vào cuối tháng Mười một năm 1842, khi Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm Bộ Biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Mùa hè năm 1844, Ăngghen đến thăm Mác ở Paris. Trong 10 ngày ở thăm Paris, Mác và Ăngghen đã có nhiều cuộc nói chuyện cởi mở và từ cuộc gặp gỡ này hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả vấn đề lý luận và thực tiễn.

Theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp đã trục xuất Mác. Ngày 3 tháng Hai năm 1845, Mác rời Paris đến Brucsen (Brussel) của Bỉ, ít lâu sau Ăngghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng năm 1845 ở Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ đã trục xuất Mác. Ông lại đến Paris, tháng Tư năm 1848, Mác cùng với Ăngghen đến Koln, một thành phố nhỏ trên bờ sông Rhein nước Đức, và tại đây Mác trở thành Tổng Biên tập tờ Báo Mới tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ. Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất Mác. Ông lại đến Paris, nhưng lần này ông chỉ lưu lại 3 tháng. Tháng Tám năm 1849, từ Paris Mác đi Lơnđơn (London) thủ đô của Anh và sống đến cuối đời (1883).

Ngày 14 tháng Ba năm 1883, Các Mác qua đời ở Lơnđơn và được an táng tại nghĩa trang Haighết (Highgate), Bắc Lơnđơn.

Hoạt động cách mạng sôi nổi và con đường tìm ra quy luật lịch sử của Các Mác

Mới 19 tuổi (1837), Các Mác đã nghiên cứu kỹ tác phẩm của Hêghen (1770 -1831), triết gia Đức nổi tiếng và là người sáng lập ra học thuyết về phép biện chứng duy tâm. Đặc biệt, Mác chú ý đến triết học của Êpicuơ (Épicure) một trong những nhà tư tưởng lớn nhất thời Cổ đại. Quan tâm đến vấn đề thái độ của con người đối với thế giới xung quanh, Mác đã giải quyết được những vấn đề quan trọng như triết học có chứng minh tất cả những cái hiện tồn tại là hợp lý hay không, hay là nó chứa đựng trong bản thân nó cái cần phải có ngược với cái đang tồn tại. Mác đặc biệt đánh giá cao ý tưởng của Êpicuơ muốn vươn tới sự tự do và độc lập về tinh thần, muốn thoát khỏi những xiềng xích ràng buộc của tôn giáo và mê tín. Trong luận án tiến sĩ Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự nhiên của Êpicuơ (1841), Mác kịch liệt chống mê tín, dị đoan và mọi triết học phản động muốn việc nghiên cứu khoa học phải phục tùng lợi ích của tôn giáo. Tiếp theo, Mác đã viết một bài báo sắc sảo (2-1842) chống lại sự kiểm duyệt báo chí của chế độ chuyên chế Phổ, nhân đó lên án gay gắt các thể chế nhà nước Phổ. Mác phê phán mạnh mẽ hơn chế độ chuyên chế Phổ và những nhà tư tưởng bênh vực cho chế độ này khi trở thành người lãnh đạo tờ báo Rheinische Zeitung vào tháng Mười năm 1842. Tháng Giêng năm 1843, Chính phủ Phổ ký lệnh đình bản tờ báo. Marx càng nhận thức rõ hơn ở Vương quốc Phổ không thể công khai tuyên truyền cách mạng được. Từ thời điểm này trở đi vấn đề cơ bản mà Mác quan tâm là vấn đề cách mạng, bản chất, nguyên nhân và động lực của nó. Công tác thực tiễn ở báo Rheinisehe Zeitung đã làm thay đổi về cơ bản thế giới quan của Mác, chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ - cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Nghiên cứu tác phẩm của Hêgen, Mác thấy rõ Nhà nước không phải là hiện thân của lý trí thế giới, hiện thân của cái chung đứng riêng các lợi ích riêng như Hêgen khẳng định. Mác thấy phải xét lại một cách có phê phán cái quan niệm duy tâm của Hêgen về xã hội và nhà nước, phát hiện những động lực thật sự của tiến bộ xã hội, những biện pháp và hình thức làm biến đổi thế giới bằng cách mạng. Thời kỳ này, Mác viết một công trình quan trọng phê phán học thuyết của Hêgen về Nhà nước và pháp luật, có nhan đề: Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen (sau khi Mác qua đời, công trình này mới được xuất bản ở Liên Xô năm 1927). Đóng góp to lớn về mặt lý luận của Mác trong quá trình phê phán Hêgen đưa ra một quan niệm đúng đắn về một chế độ xã hội dân chủ, ở đó nền dân chủ là sự tự quyết của nhân dân, lợi ích của nhân dân. Tháng Hai năm 1844, trên tờ tạp chí Deutsch – Franzosische Jahrbucher (Niên giám Pháp - Đức) Mác đăng bài Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen. Lời mở đầu, khẳng định rằng giai cấp có thể thực hiện việc giải phóng toàn thể nhân loại phải là giai cấp vô sản. Cũng trên tờ tạp chí này có hai tên tác giả đứng cạnh nhau: Các Mác và Pheđơrich Ăngghen, người sau này gắn liền với tên tuổi và học thuyết cách mạng của Các Mác. Tuy nhiên, những quan điểm mới của C. Mác trình bày trên tờ tạp chí  Deutsch – Franzosische Jahrbucher chỉ là một giả thuyết thiên tài đối với sự phát triển lịch sử của xã hội. Nó cần được chứng minh về mặt lịch sử. Và Mác đã hướng toàn bộ hoạt động lý luận để phục vụ việc chứng minh này.

Hiện thực khách quan sinh động ở nước Pháp thời gian Mác sống ở Paris đã giúp Mác hiểu sâu hơn cơ cấu nội tại của sự phát triển chủ nghĩa tư bản và những mâu thuẫn của nó.

Từ tháng Tư – tháng Tám năm 1844. Mác viết Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng mà sau này Mác phát triển một cách khoa học trong bộ Tư bản.

Tháng Hai năm 1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của Mác và Ăngghen viết chung ra đời đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hêghen trẻ, thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm, đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Thời kỳ hoạt động của Mác ở Paris kết thúc (tháng Hai năm 1845), một thời kỳ mới sau đó mở ra với mục đích rõ ràng mà Mác tự đặt ra cho mình: đề xuất một học thuyết cách mạng mới.

Mác cùng với Ăngghen hợp sức viết Hệ tư tưởng Đức (1845 – 1846) tiếp tục phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy vật không nhất quán của Luivich Phoiơbach (Ludwig Feuerbach). Trong cuốn Sự bần cùng của triết học (1847) Mác đã chống lại triết học tiểu tư sản của Pruđông (Proudhon) và trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chính trị kinh tế học vô sản. Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản, Mác và Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác và đảng vô sản, nó soi sáng cho giai cấp công nhân toàn thế giới con đường đấu tranh để thoát khỏi chế độ nô lệ tư bản chủ nghĩa và đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi. Mác và Ăngghen đã phân tích một cách sâu sắc vai trò của đấu tranh giai cấp trong lịch sử xã hội loài người. Cuộc đấu tranh giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức là động lực chủ yếu của sự phát triển lịch sử. Vạch rõ những quy luật chủ yếu của cuộc cách mạng vô sản, Mác và Ăngghen viết rằng, bước đầu tiên của cuộc cách mạng đó là “biến giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ”. Tư tưởng đó là tư tưởng xác lập “chuyên chính của giai cấp vô sản” (mặc dù trong Tuyên ngôn chưa có thuật ngữ này), và khái niệm chuyên chính vô sản và nhà nước vô sản được thể hiện rất rõ trong Tuyên ngôn. Đồng thời Mác cũng khẳng định rõ đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển và quy luật bạo lực cách mạng trong việc giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản.

Tháng Sáu năm 1859, công trình thiên tài của Các Mác Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học ra đời viết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ; nhưng điều đặc biệt quan trọng là lần đầu tiên tác phẩm đã trình bày học thuyết Mác xít về giá trị, cơ sở của học thuyết kinh tế của Các Mác.

Các Mác là người tổ chức và là lãnh tụ của Quốc tế cộng sản I thành lập ngày 28 Tháng 9 năm 1864 ở London. Mác dốc toàn bộ tâm sức của mình để thống nhất phong trào công nhân các nước liên hợp lại. Năm 1867, Bộ Tư bản (tập I) – tác phẩm chủ yếu của Mác ra đời. Tập II và III Mác không kịp hoàn tất, Ăngghen đảm nhiệm việc xuất bản hai tập này. Trong Bộ Tư bản của mình Các Mác đã trình bày những vấn đề hết sức quan trọng của sản xuất tư bản nói chung: sự chuyển hoá của tiền thành tư bản, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối, sự chuyển hoá giá trị thặng dư trở thành tư bản (tích luỹ tư bản), tích luỹ ban đầu của tư bản (tập I); những vấn đề về giá trị thặng dư và lợi nhuận, sự chuyển hoá của lợi nhuận thành lợi nhuận trung bình, tư bản cho vay và tư bản thương nghiệp, v.v…(tập II và III). Tóm lại, Mác đã vạch rõ quy luật giá trị thặng dư dưới hình thái giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối; và quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hoá được phát triển trong quy luật cung và cầu, trong những quy luật của lưu thông tiền tệ, v.v…Trong kết luận của bộ Tư bản, Mác nêu lên sự tất yếu phải thủ tiêu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế nó bằng một hình thái tổ chức cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Trong tác phẩm những năm cuối đời Mác nêu lên hình thức hợp lý nhất của chuyên chính vô sản là kiểu tổ chức chính trị như công xã Pari (Cuộc nội chiến ở Pháp – 1881).

Trong cuốn Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), Mác đã kịch liệt phê phán những sai lầm cơ hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo đảng xã hội dân chủ Đức, đề ra một vấn đề hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là bản thân xã hội cộng sản phải phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp - chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản. Năm 1876, sau khi Quốc tế I giải tán, Mác nêu lên ý kiến thành lập các đảng vô sản ở các nước là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong phong trào công nhân.

Tên tuổi của Các Mác cùng với Phriđơrich Ăngghen mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại như những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học có tác động to lớn và sâu rộng đối với nhân loại tiến bộ./.

 

Link tham khảo: http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/c-mac/tieu-su-cuoc-doi-va-su-nghiep/tieu-su-cac-mac-149

 

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐỘI THIẾU NIÊN TIỀN PHONG HỒ CHÍ MINH (15/5/1941 – 15/5/2020)

Năm 2020 đánh dấu chặng đường lịch sử 79 năm vẻ vang của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và thiếu nhi Việt Nam, công tác Đội và phong trào thiếu nhi tỉnh Bình Dương được chọn với chủ đề “Thiếu nhi Bình Dương – Đoàn kết, chăm ngoan”. Đây là dịp để mỗi thiếu nhi, Đội viên nhìn lại lịch sử hào hùng của Đội TNTP Hồ Chí Minh, đồng thời, là cơ hội để các em thể hiện vai trò là con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, làm tốt 5 điều Bác Hồ dạy, kế thừa và phát huy truyền thống Đội TNTP, tiếp bước lên Đoàn, xây dựng Bình Dương và đất nước. Nhằm mục đích giúp thiếu nhi, đội viên hiểu rõ hơn về lịch sử, truyền thống Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, về những thành tích mà đội viên thiếu nhi cả nước nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng đạt được qua các phong trào công tác Đội, về những gương anh hùng nhỏ tuổi, Hội đồng Đội tỉnh Bình Dương giới thiệu đến các em đội viên, thiếu nhi những nội dung chủ yếu về quá trình hình thành, xây dựng tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (15/5/1941 – 15/5/2020).

 I. Sự ra đời của Đội TNTP Hồ Chí Minh

Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập vào ngày 03/02/1930. Từ đó, phong trào đấu tranh chống đế quốc và phong kiến dưới sự lãnh đạo của Đảng ngày càng phát triển. Trong đấu tranh giành độc lập tự do, Bác Hồ và Đảng luôn quan tâm đến thế hệ trẻ vì đó là một lực lượng quan trọng trong công cuộc cách mạng cứu quốc, và chỉ một năm sau ngày thành lập, Đảng đã thấy rõ tầm quan trọng của việc thành lập tổ chức Đoàn, ngày 26/3/1931, tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết thành lập tổ chức Đoàn Thanh niên, tiếp theo sau đó, tại Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng vào tháng 5/1941, Trung ương Đảng đã ra quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh đoàn kết đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.

Ngay sau đó, vào ngày 15/5/1941 lịch sử, tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tổ chức Hội Nhi đồng Cứu quốc (nay là Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh) đầu tiên được thành lập với 5 đội viên là Nông Văn Dền (tức Kim Đồng) được bầu làm Đội trưởng, Nông Văn Thàn (tức Cao Sơn), Lý Văn Tịnh (tức Thanh Minh), Lý Thị Nì (tức Thủy Tiên), Lý Thị Xậu (tức Thanh Thủy).

Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là tổ chức của thiếu nhi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam sáng lập, được Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phụ trách, từ những ngày đầu thành lập, là thành viên của Mặt trận Việt Minh, Đội hoạt động theo điều lệ của Mặt trận Việt Minh với nội dung: “Dự bị giúp đánh Tây, đánh Nhật Bản cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Điều đó cho thấy, Đội luôn là tổ chức nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi, là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, là lực lượng dự bị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đội lấy 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng làm mục tiêu phấn đấu rèn luyện cho Đội viên. Đứng dưới cờ Đội quang vinh, Đội viên được phát triển mọi khả năng trong hoạt động, học tập, vui chơi, cống hiến sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

 II. Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh – 79 năm xây dựng và trưởng thành

Từ ngày được thành lập đến nay, theo sự nghiệp cách mạng của Đảng và được Đoàn phụ trách, Đội càng ngày càng phát triển. Theo từng thời kỳ, Đội đã đổi tên cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng và nguyện vọng của thiếu niên, nhi đồng như Đội Nhi đồng Cứu quốc, Đội Thiếu niên Tháng Tám, Đội Thiếu niên tiền phong Việt Nam và ngày 30/01/1970, thể theo nguyện vọng của thiếu niên, nhi đồng cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết cho Đội được mang tên Bác Hồ kính yêu: Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Sau ngày 15/5/1941, vâng theo lời Bác dạy, cùng cha anh làm cách mạng, Đội thiếu nhi cứu quốc được thành lập ở khắp các địa phương trong cả nước. Các đội viên, thiếu nhi tích cực tham gia hoạt động cách mạng như làm liên lạc, trinh sát, bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ xóm làng, tham gia lao động tiết kiệm, xoá mù chữ... đã lập công xuất sắc như Đội thiếu niên du kích Đình Bảng, Đội thiếu nhi Bát Sắt (Hà Nội), Đội Thiếu nhi Thành Huế, Đội Thiếu nhi Đồng Tháp Mười... nhiều đội viên thiếu nhi anh hùng xuất hiện như Kim Đồng, Dương Văn Nội, Phạm Ngọc Đa, Vừ A Dính... của thời kỳ chống Pháp đã trở thành những gương sáng cho các thế hệ thiếu nhi Việt Nam noi theo, làm sáng ngời trang sử của Đội Thiếu niên Tiền phong.

Suốt 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, lớp lớp thiếu nhi Việt Nam ở hai miền Nam, Bắc đã góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc như: Phong trào Trần Quốc Toản do Bác Hồ phát động năm 1948, phong trào “Vì miền Nam ruột thịt”, “Việc nhỏ, chí lớn, chống Mỹ cứu nước”, “Làm nghìn việc tốt thực hiện 5 Điều Bác Hồ dạy”, đã có nhiều tập thể Đội và cá nhân đội viên giành danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”, nhiều đội viên thiếu niên tiền phong đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ, diệt nguỵ, các anh hùng thiếu nhi quên thân mình hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xóm làng như Trần Văn Thọ, Nguyễn Bá Ngọc, Kơpa Kơlơng, Trần Văn Uẩn...

Vâng lời Bác dạy:          

“Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tuỳ theo sức của mình

Để tham gia kháng chiến

Để giữ gìn hoà bình”.

 

LẼ SỐNG VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN ĐỂ THỰC HIỆN KHÁT VỌNG TỰ CƯỜNG DÂN TỘC

(Tiếp theo)

Cao trào đấu tranh trong những năm 30 của thế kỷ XX, với đỉnh cao Xô-viết Nghệ  - Tĩnh, là trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên, thanh niên cộng sản. Cũng trong trận thử lửa này, lịch sử đã để lại tấm gương oanh liệt của người thanh niên Lý Tự Trọng, với câu nói bất hủ: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể có con đường nào khác”, đã trở thành phương châm hành động của tuổi trẻ Việt Nam. Trong cao trào giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam đã cùng toàn quân, toàn dân quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập. Tháng 12-1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với ý chí “cảm tử để Tổ quốc quyết sinh”, thanh niên cả nước đã một lòng cùng toàn dân nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần xả thân vì độc lập, tự do. Qua chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước đã hiến dâng cho Tổ quốc Việt Nam hàng chục vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú, gần ba triệu người tham gia bộ đội chủ lực, năm triệu lượt người tham gia dân quân du kích, dân công hỏa tuyến. Tiếp đó, với tinh thần lao động quên mình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên các tầng lớp đoàn viên, thanh niên tham gia công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Phong trào “Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch nhà nước” 5 năm lần thứ nhất (năm 1961 - 1965) đã có 2 triệu đoàn viên, thanh niên đăng ký tình nguyện, 6 vạn đoàn viên, thanh niên thực hiện vượt mức kế hoạch, 22 ngàn đoàn viên, thanh niên là chiến sĩ thi đua, 37 đoàn viên, thanh niên được tặng danh hiệu anh hùng lao động, nhiều điển hình “Người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực, làm hậu thuẫn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Trong công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, với tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên các tầng lớp đoàn viên, thanh niên tham gia vào hai phong trào “3 sẵn sàng” và “5 xung phong”. Có 7 triệu đoàn viên, thanh niên đã đăng ký tình nguyện; 1,5 triệu đoàn viên, thanh niên nhận nhiệm vụ khó mà Đảng yêu cầu. Phong trào “3 sẵn sàng” và “5 xung phong” đã đáp ứng được nhiệt huyết của đoàn viên, thanh niên, khao khát được cống hiến sức lực và trí tuệ cho đất nước. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã động viên đoàn viên, thanh niên cả nước góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Với chiến dịch thần tốc mùa Xuân năm 1975, đế quốc Mỹ xâm lược đã thất bại thảm hại trước sức mạnh và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 tô thắm thêm truyền thống của Đoàn.

Khi đất nước đã được hòa bình, thống nhất, đoàn viên, thanh niên Việt Nam tiếp tục là lực lượng xung kích, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh lịch sử ấy, khát vọng về tự cường dân tộc của đoàn viên, thanh niên Việt Nam tiếp tục được thể hiện bằng những phong trào hành động mang đậm sức trẻ, đầy tinh thần nhiệt huyết, sáng tạo của tuổi trẻ.

Xây dựng hình ảnh thanh niên giàu khát vọng tự cường dân tộc

Sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Trong giai đoạn lịch sử này, tuổi trẻ Việt Nam luôn cùng “hành quân theo bước chân những người anh hùng”, “hành quân theo chân Bác”, tiếp bước cha anh đi đầu trong công cuộc đổi mới. Hai phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước” đã thu hút hàng triệu đoàn viên, thanh niên tham gia; qua đó, xuất hiện nhiều tấm gương điển hình trong lao động, chiến đấu, học tập, xây dựng cuộc sống mới. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng xung kích đi đầu lập thân, lập nghiệp, tình nguyện, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tạo nên những thành công bước đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Ngày nay, các thế hệ đoàn viên, thanh niên tiếp tục hành động với khát vọng tự cường dân tộc. Lớp lớp thanh niên công nhân đang phát huy truyền thống vẻ vang của giai cấp, hăng say làm việc, không ngừng lao động sáng tạo làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, tích cực nâng cao tay nghề, chủ động tham gia nghiên cứu và phát huy đổi mới, có nhiều sáng tạo trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Đông đảo thanh niên nông dân đang phấn đấu tăng năng suất lao động góp phần làm giàu cho quê hương. Đội ngũ trí thức trẻ đang phát huy trí tuệ sáng tạo, không ngừng vươn lên với hoài bão cống hiến ngày càng nhiều cho quê hương, đất nước. Những doanh nhân trẻ Việt Nam đang chấp nhận thử thách, nỗ lực xây dựng hình ảnh thanh niên khát vọng tự cường dân tộc phát huy hiệu quả trong hội nhập quốc tế. Hàng chục triệu đoàn viên, thanh niên sống trong hòa bình, đang được “thắp sáng ước mơ tuổi trẻ”, luôn tâm nguyện phấn đấu vươn lên, góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, sức trẻ của thanh niên, tạo môi trường để thanh niên hành động, cống hiến; qua đó, có đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017 - 2022 đã xác định và triển khai thực hiện trong toàn Đoàn ba phong trào hành động cách mạng: Phong trào “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”; và ba chương trình đồng hành với thanh niên: Chương trình “Đồng hành với thanh niên trong học tập”, “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”, “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”. Qua nửa nhiệm kỳ triển khai thực hiện các phong trào hành động cách mạng, các chương trình đồng hành với thanh niên, đến nay tuổi trẻ cả nước đạt được nhiều thành tích nổi bật, để lại nhiều dấu ấn đặc biệt, thể hiện rõ qua mọi mặt của công tác đoàn và phong trào thanh niên, thiếu nhi. Các hoạt động do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức đã thực sự tạo môi trường, truyền cảm hứng cho đoàn viên, thanh niên, thể hiện tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực đời sống. Các cơ sở Đoàn đã tổ chức được 292.309 lượt hoạt động tình nguyện, thu hút được 9.086.471 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia, tăng gấp ba lần so với năm 2018 (3.084.163 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện); qua đó, tiếp tục khẳng định sự tăng trưởng về diện rộng và tác động của phong trào. Đến nay, toàn Đoàn thực hiện được 562 công trình thanh niên cấp tỉnh (tăng 140 công trình so với năm 2018), 4.570 công trình thanh niên cấp huyện (tăng 419 công trình so với năm 2018), 228.334 công trình, phần việc thanh niên cấp cơ sở (tăng 152.348 công trình so với năm 2018), với tổng giá trị là 1.511 tỷ 851 triệu đồng (tăng 725 tỷ 223 triệu đồng so với năm 2018).

Để công tác giáo dục của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy hiệu quả, có tác động tích cực tới các đoàn viên, thanh niên, đặc biệt là các nội dung về giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì việc nắm bắt tình hình, định hướng dư luận xã hội và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần được quan tâm, đầu tư; giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần đổi mới sáng tạo cho thanh niên, thiếu nhi, giúp khơi dậy niềm tự hào, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, biến tình yêu đất nước thành hành động cụ thể trong thanh niên, thiếu nhi. Các hoạt động vận động đoàn viên, thanh niên đề xuất ý tưởng sáng tạo tiếp tục được đẩy mạnh, nhiều ý tưởng, sáng kiến mới có tính ứng dụng cao, tập trung vào các vấn đề xã hội quan tâm, như môi trường, giao thông, giáo dục, quản lý đô thị, cải cách hành chính. Các hoạt động hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp được triển khai đồng bộ, đều khắp từ Trung ương đến cơ sở. Công tác truyền thông về các sự kiện, hoạt động xã hội đã thực sự tạo hiệu ứng lan tỏa trong đoàn viên, thanh niên và toàn xã hội. Nhiều ý tưởng, sáng kiến được đề xuất, phát huy; nhiều công trình, giá trị mới trong học tập, lao động, khởi nghiệp, lập nghiệp đã được thực hiện. Công tác phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng có chuyển biến tích cực. Công tác xây dựng Đoàn, mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, đoàn viên tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm triển khai. Việc phát triển đoàn viên mới được chú trọng, đặc biệt là tỷ lệ đoàn kết, tập hợp thanh niên tăng dần qua từng năm. Ý thức chính trị của người đoàn viên, thanh niên từng bước được nâng lên.

Năm 2020 là năm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, như kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2020), kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2020), kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2020); kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 và là năm tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Phát huy niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ, sự tin tưởng tuyệt đối của tổ chức Đoàn đối với Đảng; đồng thời, lan tỏa sâu rộng, hiệu triệu và thôi thúc các cấp bộ Đoàn tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua, lập nhiều thành tích chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, các sự kiện chính trị quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lựa chọn chủ đề công tác năm 2020 là “Tuổi trẻ Việt Nam tự hào tiến bước dưới cờ Đảng”. Tập trung vào chủ đề công tác cùng với việc sơ kết giữa nhiệm kỳ triển khai Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI và nghị quyết đại hội Đoàn các cấp, toàn Đoàn luôn xác định những công trình, phần việc, hoạt động sao cho thiết thực, hiệu quả, tiếp tục khơi dậy trong đoàn viên, thanh niên khát vọng dựng xây đất nước, khát vọng tự cường dân tộc.

Có thể khẳng định, tự cường dân tộc là một truyền thống vô cùng đáng tự hào của dân tộc ta. Cùng với các chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc, khát vọng về tự cường dân tộc đã trở thành lẽ sống, phương châm hành động của lớp lớp thanh niên Việt Nam. Đối với thế hệ đoàn viên, thanh niên hôm nay, khát vọng tự cường dân tộc không chỉ là tinh thần xung kích ra trận, sẵn sàng nhập ngũ để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà còn là tinh thần cống hiến tài năng, trí tuệ, tâm sức của mình để xây dựng đất nước ta ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong muốn. Để khát vọng tự cường dân tộc mãi là điểm tựa, tạo nên sức mạnh to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thời gian tới các cấp bộ Đoàn cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng vững mạnh, bảo vệ Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phải coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tổ chức Đoàn và mỗi đoàn viên, thanh niên hôm nay./.

 

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

Link tham khảo: http://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/le-song-va-hanh-dong-cua-doan-vien-thanh-nien-de-thuc-hien-khat-vong-tu-cuong-dan-toc

 

III. PHÁP LUẬT

1. Chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 5/2020

Tháng 5/2020, nhiều chính sách mới bắt đầu có hiệu lực. Tiêu biểu như việc cấp bản sao điện tử cho người có yêu cầu hay hủy toàn bộ kết quả thi của thí sinh bị đình chỉ thi tại kỳ thi THPT quốc gia...

 Từ 22/5/2020, chính thức cấp bản sao điện tử cho người dân

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Nghị định này sẽ có hiệu lực từ ngày 22/5 tới đây.

Đáng chú ý, thay vì cấp bản sao bằng giấy thì từ 22/5, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp bản sao điện tử theo 02 cách:

Cách 1. Cấp bản sao điện tử từ sổ gốc

Khi đó, cơ quan đang quản lý sổ gốc sẽ căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao điện tử có chữ ký số của cơ quan cho người yêu cầu.

Cách 2. Chứng thực bản sao điện tử từ bản chính giấy tờ, tài liệu­

Với cách làm này, tổ chức, cá nhân xuất trình bản chính giấy tờ, tài liệu làm cơ sở để chứng thực bản sao. Người thực hiện chứng thực kiểm tra bản chính, chụp điện tử bản chính, nhận lời chứng chứng thực bản sao từ bản chính và thực hiện ký số của người chứng thực, cơ quan có thẩm quyền chứng thực và cập nhật vào sổ chứng thực.

Xem thêm…

Nếu có tiền bảo lãnh, xe vi phạm giao thông sẽ không bị tạm giữ

Nghị định 31/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nội dung về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính sẽ có hiệu lực từ ngày 01/5/2020.

Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể được giữ phương tiện dưới sự quản lý của cơ quan, người có thẩm quyền (trừ trường hợp xe là tang vật vụ án hình sự, xe đua trái phép, giấy tờ xe bị làm giả...) nếu có 01 trong các điều kiện:

- Người vi phạm có nơi đăng ký thường trú hoặc có đăng ký tạm trú còn thời hạn, hoặc có giấy xác nhận về nơi công tác của cơ quan, tổ chức (có địa chỉ rõ ràng) nơi cá nhân vi phạm đang công tác. Tổ chức, cá nhân phải có nơi giữ, bảo quản phương tiện.

- Tổ chức, cá nhân vi phạm có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh.

Trong thời gian được giao giữ, bảo quản phương tiện, tổ chức, cá nhân vi phạm không được phép sử dụng phương tiện tham gia giao thông; không được tự ý thay đổi nơi giữ, bảo quản nếu không được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền.

Xem thêm…

Cấm lao động Việt Nam ra nước ngoài làm nghề massage

Theo Nghị định 38/2020/NĐ-CP ngày 03/4/2020, có tới 07 công việc người lao động không được đến làm việc ở nước ngoài. Cụ thể:

- Công việc massage làm việc tại các nhà hàng, khách sạn hoặc các trung tâm giải trí;

- Công việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất nổ, chất độc hại trong luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thủy ngân, bạc, kẽm), mangan, điôxit thủy ngân;

- Công việc tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, khai thác quặng phóng xạ các loại;

- Công việc sản xuất, bao gói phải tiếp xúc thường xuyên với các hóa chất axit nitơric, natri sunfat, các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, sát trùng, chống mối mọt có độc tính mạnh;

- Công việc săn bắt thú dữ, cá sấu, cá mập;

- Công việc thường xuyên ở nơi thiếu không khí, áp suất lớn (dưới lòng đất, lòng đại dương);

- Công việc liệm, mai táng tử thi, thiêu xác chết, bốc mồ mả.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/5/2020.

Lao động tại Hàn Quốc phải ký quỹ 100 triệu đồng

Ngày 31/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 12 năm 2020 thực hiện thí điểm ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc (gọi tắt là Chương trình EPS). Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/5/2020.

Theo Quyết định này, người lao động trước khi đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS phải ký quỹ để đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng, về nước đúng thời hạn sau khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Mức ký quỹ là 100 triệu đồng. Thời hạn ký quỹ là 05 năm 06 tháng.

Trong 35 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng đưa người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS với Trung tâm Lao động ngoài nước, người lao động phải ký quỹ tại Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn nơi đăng ký thường trú.

Xem thêm…

Hủy toàn bộ kết quả của thí sinh bị đình chỉ thi tại kỳ thi THPT quốc gia 2020

Tại Thông tư số 08/2020/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 08/5/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sửa đổi một số điều của Quy chế thi Trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia.

Một trong những nội dung mới đáng chú ý nhất của Quy chế này là quy định về việc đình chỉ thi tại khoản 10 Điều 1. Cụ thể:

- Thí sinh bị đình chỉ thi phải nộp bài thi, đề thi, giấy nháp cho cán bộ coi thi và ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định;

- Thí sinh bị đình chỉ thi chỉ được ra khỏi khu vực thi sau khi hết 2/3 thời gian làm bài thi tự luận và sau khi hết thời gian làm bài thi trắc nghiệm;

- Thí sinh bị đình chỉ thi sẽ bị hủy kết quả toàn bộ các bài thi của kỳ thi năm đó (quy định mới).

Xem thêm…

Thêm 4 ngành nghề được ưu đãi đầu tư

Nghị định 37/2020/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 15/5/2020 đã bổ sung vào danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP về các hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo đó, 04 ngành nghề được bổ sung mới bao gồm:

- Đầu tư kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh cơ sở ươm tạo doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Đầu tư kinh doanh khu làm việc chung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

 

Xem thêm thông tin chi tiết tại đây: https://luatvietnam.vn/tin-van-ban-moi/chinh-sach-moi-noi-bat-co-hieu-luc-thang-5-2020-186-24846-article.html

Nguồn: luatvietnam.vn

 

IV. ĐỊNH HƯỚNG TUYÊN TRUYỀN THÁNG 5/2020

- Tiếp tục thông tin về công tác triển khai thực hiện Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và thông tin đại hội các Chi, Đảng bộ, công tác chuẩn bị đại hội các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy. Thông tin về nội dung chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, chuyên đề về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ Đoàn: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên”, và trong đoàn viên, thanh niên:“Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với tu dưỡng đạo đức suốt đời”; các bài học lý luận chính trị (sửa đổi), tăng cường tuyên truyền “Mỗi ngày 1 tin tốt, mỗi tuần 1 câu chuyện đẹp” trên fanpage đơn vị, gương điển hình trong các phong trào thi đua và các lĩnh vực học tập, công tác; cuộc vận động “Xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên thời kỳ mới”.

- Các cấp bộ Đoàn tổ chức đợt sinh hoạt chính trị với chủ đề “Tự hào tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ” với các nội dung như: tìm hiểu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tri ân và tôn vinh những cống hiến vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, với phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế; Tổ chức các diễn đàn, tọa đàm chuyên sâu với chủ đề “Bác Hồ với thanh niên - Thanh niên với Bác Hồ”.v.v…, qua đó giúp đoàn viên, thanh niên nhận thức sâu sắc và thấm nhuần những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ; khẳng định niềm tin sắt son của tuổi trẻ hôm nay đối với Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại.

- Tiếp tục nắm bắt và định hướng kịp thời các thông tin dư luận xã hội, nhất là các thông tin dư luận xã hội trên các trang mạng xã hội, thường xuyên báo cáo với lãnh đạo để xử lý kịp thời.

- Tiếp tục triển khai các phong trào hành động cách mạng, chương trình đồng hành cùng với thanh thiếu nhi, đẩy mạnh tuyên truyền những tấm gương cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên tiêu biểu.v.v…với phương thức phù hợp với tình hình hiện nay. Tiếp tục truyền thông về tình hình dịch bệnh Covid – 19 và công tác phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng, công tác tuyên truyền cần tiếp tục hướng đến việc nâng cao tinh thần cảnh giác, phòng ngừa các nguy cơ nhiễm bệnh và lan truyền dịch bệnh trong cộng đồng, đấu tranh phê phán những thông tin sai trái gây hoang mạng trong người dân. Phản ánh sự đồng thuận và tích cực tham gia của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và tầng lớp nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch bệnh, chung tay chia sẽ khó khăn.

- Tập trung tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị lịch sử của các ngày kỷ niệm: 134 năm Ngày Quốc tế lao động (1/5), 66 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2020), 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020); 79 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (15/5/1941 – 15/5/2020); 61 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh – Ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 – 19/5/2020),… Các hoạt động tuyên truyền cần tạo được không khí trong xã hội hướng đến các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống dân tộc, khẳng định công lao của Đảng, Bác Hồ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cùng với việc kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, của các thế hệ đi trước, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tất cả vì một nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuyên truyền các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa, chăm lo gia đình chính sách,…

Tiếp tục tuyên truyền các hoạt động đối nội, đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, khẳng định vai trò đóng góp của Việt Nam đối với Liên Hiệp Quốc, ASEAN và các diễn đàn, tổ chức quốc tế khác, trong đó nổi bật là năm Chủ tịch ASEAN 2020 và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Đẩy mạnh tuyên truyền công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước, tuyên truyền về biển, đảo Việt Nam, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển và hải đảo, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta trong bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

 

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ĐOÀN

Địa chỉ: Số 9, đường 20/8, Phường Nguyễn Trãi, Thành phố Hà Giang.

Email: vp.tdhg@hagiang.gov.vn

Điện thoại: 02193 866 215

Website: www.tinhdoan.hagiang.gov.vn